MÍT

View previous topic View next topic Go down

MÍT

Post by chandoi on 20th January 2015, 3:46 pm


Cây mít là một loại cây ăn trái miền nhiệt đới gốc ở miền nam Ấn Độ và đảo Sri Lanka (Tích Lan) sớm được trồng ở Mã Lai. Vì vậy có nhiều tài liệu cho rằng cây mít gốc ở Đông Nam Á. Ngày nay mít được trồng khắp thế giới ở những vùng khí hậu nhiệt đới kể cả các hải đảo Thái Bình Dương.

Cây mít thuộc gia đình cây dâu tằm Moraceae và được biết dưới tên khoa học Artocarpus heterophyllus. Theo tiếng Hy Lạp, Artis là ‘bánh mì’ và Carpos là ‘trái’. Nếu ghép hai chữ lại ta có ‘trái bánh mì’ mà người Anh gọi là breadfruit và người Pháp gọi là fruit à pain. Nhưng người Anh gọi cây mít là jackfruit tree và người Pháp gọi là Jacquier hay Jaquier. Người Bồ Đào Nha gọi là Jaca, có lẽ là âm của chữ Kathal mà người Bangladesh dùng để chỉ trái mít vì người Bồ Đào Nha là người Âu Châu đầu tiên đến Ấn Độ vào thế kỷ 16. Người Mã Lai gọi mít là chakka và người Tây Ban Nha gọi là Fruta de Jack. Còn breadfruit của Anh hay arbre à pain và fruit à pain của Pháp là cây và trái sa- kê. Chúng ta sẽ đề cập về trái này như một thân thuộc gần của trái mít.

Tên Hán – Việt của mít là ba la mật. Tên Hán- Việt của hột mít là ba la mật hạch nhân. Tên thuốc Đông Y của mít là năng gia kiết.

Cây mít cao từ 15- 20 m. Lá mít dày và xanh sậm. Cây mít có nhiều nhựa trắng đục và dẻo như keo. Đặc điểm này cho thấy cây mít thích hợp với vùng đất cát và chịu đựng nắng hạn rất kiên cường.

Mít được trồng bằng hột. Muốn có mít ngon phải dùng múi mít ngon kể cả hột còn vỏ lụa bên ngoài để trồng thì sẽ có cây mít cho trái mít ráo và ngon như múi mít gốc. Hột mít ráo lúc nào cũng có vỏ lụa ở ngoài. Nếu dùng hột mít không có vỏ lụa bên ngoài để trồng cây mít sẽ cho trái mít có cơm nhão gọi là mít ướt.

Cây mít không có rễ đuôi chuột nên khi gặp gió lớn dễ bị trốc gốc.



Sau khi trồng được 3 năm, mít bắt đầu ra trái. Trái mít là một loại trái cây to lớn nhất thế giới ngoại trừ trái dưa hấu. Trái mít to có thể dài 90 cm và cân nặng 40 ki- lô. Trái mít treo lủng lẳng trên cây nhờ cái cuống dài, to và dẻo. Vỏ trái mít có gai sần sùi. Gai mít không to và bén nhọn như gai trái sầu riêng. Mít, thơm và trái sa- kê là ba loại trái cây có cùi to gắn liền với cuống. Chung quanh cùi mít có những múi mít chín vàng thơm và ngọt. Bên trong múi là những cái hột to bằng ngón tay cái và có nhiều tinh bột.

Người ta hái mít khi mít già, đóng cọc và phơi nắng thì mít mới chín. Người ta cho rằng những người lì lợm đóng cọc vào cùi mít thì mít không chín. Người viết chỉ ghi ra những gì được nghe nhưng chưa có cơ hội kiểm chứng điều này. Điều này tương tự với nhận xét rằng người ‘nặng bóng vía’ không câu được cá. Chúng tôi không biết ‘nặng bóng vía’ là như thế nào mà chỉ biết vài người không bao giờ câu được một con cá nhỏ nào dù tỏ ra ham thích đi câu. Nhiều người câu cá tránh tiết lộ mình đi câu vì tin rằng khi nói ra, họ không câu được con cá nào!

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương tự ví mình như trái mít chín cây và mời mọc:
Quân tử có thương thì đóng cọc.

Người Âu- Mỹ có khứu giác hoàn toàn khác với khứu giác của người Việt Nam và các dân tộc sống ở miền nhiệt đới về mùi sầu riêng và mùi mít chín. Họ cho sầu riêng có mùi thối và mít chín có mùi củ hành rất khó chịu trong khi người Việt Nam thích ăn sầu riêng đến nỗi không có tiền mua nên sinh lòng nhung nhớ sầu tư. Họ cũng khen mùi thơm của mít chín khi nói:
Thơm như múi mít.

Ở Bangladesh và Indonesia trái mít được xem là quốc quả. Nếu nó có mùi củ hành thì không thể nào nó có một địa vị đầy danh dự như vậy giữa hàng ngàn loại trái cây nhiệt đới.


Trái mít to và có nhiều xơ. Người ta dùng mít non để nấu canh, hầm mềm để ăn với bánh hỏi và thịt heo quay. Trong những năm thiếu lúa gạo trái mít có vai trò quan trọng trong việc cứu đói. Đó là lý do tại sao nó mang tên Artocarpus (trái bánh mì). Ở miền Nam người ta dùng mít non nấu canh cá rô và đậu phọng. Đây là một món ăn đơn giản nhưng đầy hương vị đồng quê với vị béo, mặn, ngọt và dẻo của đậu phọng, nước mắm, cá và mít non. Ở nông thôn miền Nam người ta dùng bông mít có cám trộn với bưởi và thơm để làm một loại gỏi thuần thực vật ăn với nước mắm ớt. Ở Ấn Độ, Thái Lan, Sri Lanka, Mã Lai…người ta dùng mít non để nấu ca- ri.

Trái mít chín có protein, chất vôi, chất sắt, potassium, sinh tố A và ác xít ascorbustic. Hột mít có sinh tố B1 và B2. Ở nông thôn miền Nam đôi khi người ta luộc hột mít, lột vỏ và quệt nhuyễn để làm nhưn bánh thay cho đậu xanh. Hột mít luộc, nướng hay rang đều ăn ngon. Người Việt Nam thích mít ráo, múi to và cơm dày của trái mít nghệ. Cũng có người thích mít mật tức mít ướt, cơm nhão nhưng ngọt. Mít dừa có múi trắng nên không được người ăn ưa thích nhiều. Vào thế kỷ 17 giáo sĩ Alexandre de Rhodes từ Đàng Trong (3) ra Đàng Ngoài (3) truyền giảng đạo. Ông thích thú khi ăn mít mà ông mô tả như một loại trái to lớn bên trong có nhiều trái nhỏ ăn rất ngon. Hột luộc, rang hay nướng ăn rất bùi.

Gỗ mít màu vàng rất đẹp và cứng. Người ta so sánh nó với gỗ cây dái ngựa Swietenia mahagoni. Nó được dùng trong ngành sơn mài ở Bình Dương. Gỗ mít cứng, rắn chắc và dễ đánh bóng. Nó được dùng để đóng bàn ghế, làm nhà, làm nhạc khí. Nhiều cung điện, đền đài ở Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam được làm bằng gỗ mít. Phần lớn các tượng Phật ở Việt Nam đều được tạc bằng gỗ mít. Ấn Độ và Sri Lanka (Tích Lan- Ceylon) xuất cảng gỗ mít xẻ sang Âu Châu. Bột của gỗ mít dùng để nhuộm màu vàng. Cây mít là một trong chín loại cây được người Thái trồng trước nhà theo tín ngưỡng truyền thống của xứ này.

Nhựa cây mít dẻo như keo. Khả năng sản xuất nhựa của cây mít chỉ kém hơn cây cao su đôi chút mà thôi. Ở nông thôn trẻ em dùng nhựa mít để bẫy chim. Chim không đi được khi chân dính vào nhựa mít. Nhựa cây mít trộn với mủ cây sung và dầu lấy từ cây dầu trường Schleichera trijuga tức cây xôi Tích Lan, cây dâu nhựa Macassar (4), cây sơn cánh kiến, hơ lửa để hàn đồ sành sứ bị sứt mẻ.

Mít chín ăn nhuận trường. Trái lại ăn mít sống gây trở ngại cho sự tiêu hóa vì nhựa và chất chát của mít sống. Để khử nhựa mít và trợ tiêu hóa, người Việt Nam làm dưa mít trộn với dưa giá (giá đậu xanh) ăn với nước thịt kho hay nước cá kho. Người ta cũng dùng mít chín để cất rượu mạnh. Ngưu tộc rất thích ăn xơ và vỏ trái mít. Người ta vỗ béo huỳnh ngưu tộc bằng lá mít.

Theo Đông Y Trung Hoa trái mít chín bổ và mát. Người Việt Nam cho rằng mít ngọt vì có nhiều đường nên nhiệt như sầu riêng, nhãn, mãng cầu vì có nhiều ca- lo- ri. Hột mít rang có tính kích dục. Trong y học dân gian trong vùng Đông Nam Á, người ta đốt lá mít lấy tro hòa với dầu dừa để phết lên các u nhọt. Mủ mít trộn với dấm trị rắn cắn, các vết thương làm mủ, sưng hạch. Rễ cây mít được dùng làm thuốc trị suyễn, sốt, tiêu chảy và bịnh ngoài da. Gỗ cây mít dùng làm thuốc tẩy xổ, an thần và hạ huyết áp. Tủy của cây mít được xem là thuốc trụy thai.

Cây mít được tìm thấy khắp nơi ở Việt Nam nhất là những vùng đất tương đối ít nước.

Mít được trồng nhiều ở các tỉnh phía bắc của Nam Bộ như Bình Dương, Biên Hòa, Bà Rịa, Long Khánh, Bình Long, Phước Long. Người ta thường treo võng rách hay quần áo rách trên cây mít để xua đuổi ma đừng phá mít khi kết quả. Ở Đông Nam Á thường thường dưới gốc mít người ta trồng các loại dây leo có thể sinh lợi được như dây tiêu sọ (Piper nigrum), tiêu lốp (Piper longum), trầu (Piper betel) v.v. Xem như thế ta thấy cây mít có duyên nợ với gia đình Piperaceae và giống Piper của họ tiêu, trầu không và lá lốt.

Những tên gọi Jackfruit, Jacquier (cây mít), Fruto de Jack của người Âu Châu cho thấy trái mít rất quen thuộc trong quần chúng. Jack hay Jacques là những tên dành cho nam giới thường thấy ở Âu- Mỹ như thằng Cu, thằng Đực ở nước ta, thằng Bi ở Ấn Độ v.v. Người Pháp gọi những cuộc nổi dậy của nông dân là jacqueries. Chữ Jack hay Jacques như bao hàm ý nghĩa đại đa số quần chúng bình dân. Từ thế kỷ 16 trở về sau người Âu Châu nhất là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Anh, Pháp, Ý…có dịp tiếp xúc với các dân tộc khác qua các cuộc giao thương, thám hiểm, chinh phục và truyền giảng đạo, họ thấy tận mắt tầm quan trọng của cây mít và cây sa- kê trong đời sống của các dân tộc ngoài Âu Châu khi thiếu lương thực.

Trong ngôn ngữ Việt Nam có vài cụm từ liên quan đến mít như:

Mít là hết biết, hết hiểu rồi. Thí dụ: Nó mít rồi!

Mít là âm cuối của chữ Annamite mà người Pháp dùng để miệt thị người Việt Nam. Riêng hai chữ An Nam (5) gây xốn xang cho người Việt Nam không ít. Tiếp vĩ ngữ ITE có nghĩa xấu. Trong từ ngữ y học Pháp những chứng viêm đều có tiếp vĩ ngữ ITE như bronchite (sưng cuống phổi), hepatite (viêm gan) v.v.

Mít ướt hay mít mật là trái mít ngọt nhưng cơm nhão. Thường thường người ta dùng mít ướt để cất rượu. Hột mít ướt không có vỏ lụa. Cây mít trồng từ hột mít ướt sẽ ra trái mít ướt. Cụm từ mít ướt là tiếng lóng ám chỉ đứa trẻ hay nhõng nhẽo hay dễ khóc khi đương đầu với bất cứ chuyện gì dù khó hay dễ. Khi nói đến hai chữ mít ướt người ta thường dùng cụm từ ‘mít ướt sút cùi’.

Mít đặc là cụm chữ dùng để chỉ người dốt nát.
Những người mít đặc thói thời
Ai mà ưa chuong đón mời làm chi.

***

Mít có hai thân thuộc rất gần là mít tố nữ và trái sa- kê.



Mít tố nữ nhỏ hơn trái mít thường nhưng thơm, ngon, cơm dày, nhiều múi, hột nhỏ, ít xơ và ít nhựa. Cây mít thường chịu đựng nắng hạn rất tốt. Trái lại cây mít tố nữ (tố nữ: người thiếu nữ đẹp) chỉ thích hợp với vùng đất đai màu mỡ và có nước đầy đủ. Trái mít tố nữ nhỏ. Vỏ sần sùi nhưng vô hại khi đụng đến. Vùng sản xuất mít tố nữ thường là vùng có vườn trồng sầu riêng, măng cụt và chôm chôm. Có thể loại mít này theo chân các nhà truyền giáo đến Cái Mơn, Bình Nhâm, Nhị Bình…cùng lúc với các cây ăn trái miền nhiệt đới gốc ở Mã Lai và Indonesia như sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, giâu miền dưới (6).

Một thân thuộc gần khác của mít là cây sa- kê thuộc gia đình Moraceae dưới tên khoa học Artocarpus altilis. Người Anh gọi là breadfruit (trái), Pháp: fruit à pain và Tây Ban Nha: fruta de pan. Người Hawaii gọi là ulu. Người Việt Nam gọi là trái sa- kê dựa theo cách gọi của người Thái và người Khmer.


Cây sa- kê gốc ở Mã Lai, Indonesia, New Guinea. Từ đó nó được trồng trên các hải đảo trong Thái Bình Dương kể cả đảo Hawaii và ở các nước trong vùng Đông Nam Á. Nó được người Tây Ban Nha đưa vào Mễ Tây Cơ và một phần của Nam Mỹ và người Anh và Pháp đưa vào các hải đảo trong biển Caribbean . Người Anh quan tâm đến cây sa- kê khi dân chúng trên đảo Jamaica bị đói vào hạ bán thế kỷ 18. Từ đó nó được trồng trên đảo này và được Anh hoàng George III khuyến khích trồng để giải quyết vấn đề lương thực cho người nô lệ.

Trong chuyện thần thoại của dân hải đảo Hawaii có đề cập đến nguồn gốc ‘cây bánh mì’ (sa- kê) như là thân xác của thần Ku. Vị thần này chung sống với một người đàn bà đã chết và có rất nhiều con. Gặp lúc đói kém ông không nỡ nhìn con và dân cư trên đảo chết đói nên hy sinh thân xác mình biển thành ‘cây bánh mì’ (sa- kê) để nuôi con và cư dân trên đảo. Trái sa- kê được xem như cái đầu của thần Ku. Nhựa cây là máu, các nhánh cây là tay chân và thân cây là thân mình của vị thần này.



Cây sa- kê cao từ 20- 25 m. Lá sa- kê dài, láng, hao hao giống như lá đu đủ nhưng xanh sậm và dài cả thước trông rất đẹp. Cây sa- kê có nhiều nhựa như cây mít. Khi chặt vào thân cây hay cuống lá, nhựa trắng đục nhỏ giọt từ cuống lá hay thân cây bị thương.

Trái sa- kê non màu xanh. Vỏ trái cây này có gai nhưng không nhọn và vô hại. Trái sa- kê có ít hột và hột của nó nhỏ hơn hột mít. Phần lớn người ta trồng loại sa- kê không hột. Cơm trái sa- kê màu trắng khi chín. Người ta ăn trái sa- kê sống như ăn rau cải và ăn trái chín như ăn trái cây tráng miệng. Hột được rang và ăn với muối. Cư dân trên các hải đảo Thái Bình Dương và biển Caribbean hấp, nấu, rang trái và hột sa- kê hoặc dùng trái chín làm kem, bánh kẹo bằng cách nấu với đường và nước cốt dừa. Người Việt Nam chỉ dùng trái sa- kê sống để nấu canh mà thôi. Dân hải đảo Thái Bình Dương và biển Caribbean dùng nó như lương thực. Người ta nhồi cơm trái sa- kê với lúa mì để làm bánh mì. Ngày nay vai trò dinh dưỡng của trái sa- kê giảm sút trước khoai mì (sắn), khoai lang và khoai môn. Ở Ấn Độ người ta cho bò và dê ăn lá sa- kê. Trên đảo Guam người ta dùng lá sa- kê nuôi heo, ngựa, bò. Ngựa còn ăn cả vỏ non của cây sa- kê. Trái sa- kê có chất thiếc, potassium, phosphorus, sinh tố A, B1 và C và nhiều carbohydrates.

Người ta dùng nhựa sa- kê để bẫy chim. Nhựa cây sa- kê hòa với dầu dừa dùng để xảm ghe thuyền. Cư dân trên các hải đảo Thái Bình Dương trộn nhựa cây sa- kê với dầu dừa và đất để sơn ghe thuyền. Gỗ cây sa- kê là một loại gỗ trung bình. Nó được dùng làm bàn ghế thông thường. Nhưng nó nhẹ và ít bị mọt. Dân hải đảo dùng nó làm dụng cụ trượt sóng. Vỏ cây sa- kê có nhiều sợi được dân hải đảo dùng dệt một loại vải đặc biệt.

Cư dân sống trên các hải đảo trong biển Caribbean sắc lá sa- kê uống để hạ huyết áp và trị suyễn. Người ta giã nát lá sa- kê thoa lên lưỡi trẻ em bị tưa lưỡi. Lá sa- kê giã nhuyễn và vắt nước nhỏ vào tai khi tai đau. Nhựa và tro của lá sa- kê được dùng làm thuốc trị bịnh ngoài da. Lá sấy khô và tán thành bột dùng làm thuốc trị bịnh sưng lá lách. Người ta đắp nhựa cây sa- kê trên xương sống để trị chứng đau thắt lưng.

***

Về phẩm chất trái cây ngon, sầu riêng và xoài trội hơn mít. Nhưng trong việc cứu đói mít và sa- kê có vai trò nhất định của chúng trong qua khứ khi loài người thiếu lương thực. Cây mít và cây sa- kê có nhiều công dụng và dược tính vượt hẳn cây sầu riêng và cây xoài. Sầu riêng, xoài và mít đều là ba loại trái cây ngon, có nhiều nhiệt và chất ngọt. Ba loại trái cây miền nhiệt đới này hấp dẫn ruồi nên mùa hè ở miền nhiệt đới là mùa trái cây và cũng là mùa có nhiều người bị thổ tả.

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.

_________________
avatar
chandoi
*
*

Đến từ : Thành Phố Buồn, USA

Back to top Go down

Re: MÍT

Post by MuaThuDuoiMua on 20th January 2015, 3:48 pm

Be^n nay no' ba'n ca? $2/lb a' ...

_________________
Một mùa thu anh đứng trong mưa chờ em
Lá rơi vàng đầy sân ...
avatar
MuaThuDuoiMua
*
*


Back to top Go down

Re: MÍT

Post by hoadieu on 20th January 2015, 3:53 pm

Vậy là chỗ chị Mùa bán mắc rồi ,ở đây bán chưa tới $1/lb nữa á

_________________
avatar
hoadieu
*
*

Đến từ : xóm nhà lá

Back to top Go down

Re: MÍT

Post by Sponsored content


Sponsored content


Back to top Go down

View previous topic View next topic Back to top


 
Permissions in this forum:
You cannot reply to topics in this forum